Giới thiệu:
Truyện kể về cuộc đời của Tnú, một người con kiên cường của dân làng Xô Man, Tây Nguyên qua lời kể trầm hùng của cụ Mết. Tnú vốn là một đứa con mồ côi được dân làng Xô Man che chở, nuôi lớn và trưởng thành. Ngay từ nhỏ Tnú đã tỏ ra gan gốc, dũng cảm lạ thường.
Tnú tuy học chữ rất chậm nhưng lại rất sáng dạ trong hoạt động giao liên, trong khi hoạt động Tnú bị địch bắt, bị tra tấn dã man nhưng Tnú vẫn giữ một lòng trung thành với Đảng, với cách mạng. Sau khi ra tù, Tnú cưới Mai làm vợ, khi mới sinh được đứa con trai thì một sự việc đau lòng xảy ra. Bọn thằng Dục đã bắt mẹ con Mai để dụ Tnú ra đầu hàng nhưng Tnú không xuất hiện, chúng đã đánh đập dã man mẹ con Mai. Lòng căm thù trào dâng, Tnú xông ra cứu mẹ con Mai nhưng mẹ con Mai đã chết, Tnú bị bắt và bị đốt mười đầu ngón tay. Cụ Mết đã lãnh đạo dân làng Xô Man vùng dậy chém giết kẻ thù, giải thoát cho Tnú. Cũng từ đó dân làng Xô Man đã đứng dậy cầm giáo mác để bảo vệ buông làng của mình, còn Tnú thì tham gia lực lượng vũ trang.
Câu chuyện về Tnú và dân làng Xô Man là câu chuyện phản ánh sự vùng dậy mãnh liệt của nhân dân Tây Nguyên trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước.
À ra vậy! Dít đã thành bí thư chi bộ xã. Thực tình, anh không hình dung được Dít bây giờ ra thế nào? Dít là em gái Mai. Ngày Mai mất và Tnú ra đi, nó còn là một cô bé không có áo mặc, đêm lạnh không ngủ, đốt lửa ngồi cho đến gà gáy rồi đi giã gạo thay chị. Tnú cầm mấy cây xà nu soi cho Dít gằn gạo. Nó gằn đủ ba mươi lon gạo trắng, đổ ruột nghé cho Tnú mang đi. Nó lầm lì, không nói gì cả, mắt ráo hoảnh trong khi mọi người, cả cụ già Mết đều khóc vì cái chết của Mai…
Heng giục:
- Tắm nước lâu lạnh, cảm sốt đó. Đi chớ, sắp tối rồi!
Tnú không lau khô đầu tóc. Anh cầm mũ đi theo Heng.
Đến chỗ sắp bước vào rừng lách, có một cây lớn ngã ngang đường phải leo qua. Cạnh đó, du kích đã đào một cái công sự dài. Hồi Tnú ra đi, cây này chưa ngã. Tnú dừng lại. Chính ở đây, anh đã gặp Mai lần đầu. Tất nhiên không phải là lần đầu hẳn, cả hai đều là người làng, họ biết nhau từ ngày mẹ còn địu trên lưng. Nhưng chính ở đây, lần đầu tiên sau khi ở tù về, Tnú gặp lại Mai, thấy Mai đã lớn hơn anh không ngờ, và Mai thì cầm hai bàn tay anh lúc ấy còn lành lặn, ứa nước mắt khóc, không phải như một đứa trẻ mà như một người con gái đã lớn, vừa xấu hổ vừa thương yêu. Kỷ niệm đó cắt vào lòng anh một nhát dao nứa. Anh trợn mắt lên, như những lúc bị tra tấn đau quá trước đây. Thằng bé Heng không biết câu chuyện đó. Leo lên thân cây rồi nó quay lại nhìn Tnú, hất hàm ra hiệu:
- Đi chớ, anh Tnú! Lâu ngày về, chân không leo nổi cái dốc này nữa?
Tnú trèo qua thân cây. Con đường đổ xuống dốc lỗ chỗ hố chông.
Mặt Tnú đanh lại. Anh lẳng lặng đi cho đến khi anh nhận ra tiếng chày dồn dập của làng anh. Bây giờ anh chợt hiểu ra rằng hình như cái mà anh nhớ nhất ở làng, nỗi nhớ day dứt lòng anh suốt ba năm nay chính là tiếng chày đó, tiếng chày chuyên cần, rộn rã của những người đàn bà và những cô gái Strá, của mẹ anh ngày xa xưa, của Mai, của Dít, từ ngày lọt lòng anh đã nghe thấy tiếng chày ấy rồi. Tnú cố giữ bình tĩnh nhưng ngực anh vẫn đập liên hồi, chân cứ vấp mãi mấy cái rễ cây ở chỗ ngã quẹo vào làng. Anh vượt đi lên trước Heng, Heng chạy theo anh, vừa gọi:
- Chông đấy, có chông đấy, không phải như trước đâu, đi theo tui chớ…
Đến làng mặt trời chưa tắt. Thằng bé Heng tháo cây súng chống xuống đất gọi to:
- Người già ơi, có khách đấy!
Ở mỗi cửa nhà ló ra bốn, năm cái đầu ngơ ngác. Những cặp mắt tròn xoe, rồi những tiếng ré lên và những tiếng reo:
- Giàng ơi … Anh Tnú, thằng Tnú. Nó về rồi… Mày về rồi đó, hả Tnú!
Có những người không kịp bước xuống thang, nhảy phóc một cái từ trên sàn xuống đất. Những bà già - Trời ơi, bà cụ Leng còn sống kia à! - lụm khụm bò xuống thang, từng bậc từng bậc, vừa chửi:
- Con cháu! Ma bắt mày, thằng quỷ!… Mày không chờ tau chết rồi hãy về một thể có được không!